Showing posts with label Tram nguyen. Show all posts
Showing posts with label Tram nguyen. Show all posts

Friday, January 10, 2014

Sở Phòng Vệ Duyên Hải/QLVNCH

Sở Phòng Vệ Duyên Hải/QLVNCH

I. Phần Mở Đầu
Cuộc chiến tranh tại Việt Nam giữa hai khối Quốc Gia và Cộng Sản diễn ra dưới nhiều hình thái trong đó đôi bên tìm đủ mọi cách để chiếm lợi thế và loại đối thủ ra ngoài vòng chiến. Nhiều sách báo và phim ảnh đã phân tích tỉ mỉ và tường thuật rất rõ ràng về những trận đánh nổi tiếng như Tết Mậu Thân, Hạ Lào, Quảng Trị, Kontum, An Lộc v.v... trong đó quân số đôi bên tham chiến lên tới nhiều sư đoàn. Tuy nhiên, ngoài mặt "nổi" hay chiến tranh qui ước nêu trên được nhiều người biết đến, còn có mặt "chìm" hay chiến tranh đặc biệt ít được phổ biến.

Nói tới chiến tranh đặc biệt, ngay kẻ trong cuộc cũng chỉ biết được phần nhiệm của mình, còn người bên ngoài lại càng không rõ, ngoài cái tên Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB). Nhìn chung, LLĐB gồm nhiều quân binh chủng thuộc QLVNCH, đôi khi có cả dân sự, có nhiệm vụ xâm nhập hậu phương hay vùng địch kiểm soát bằng những toán nhỏ để thu thập tin tức tình báo, phá hoại, bắt cóc hay tuyên truyền. Vì những cuộc hành quân "trong bóng tối" này rất nguy hiểm nên đại đa số nhân viên thuộc LLĐB đều là người tình nguyện. Chúng ta thường nghe nhắc đến những toán Lôi Hổ, Delta, Biệt Cách Dù v.v... thuộc Bộ Binh hoặc Phi Đoàn 219 của Không Quân, còn riêng về Hải Quân, ngoài lực lượng Biệt Hải, phần còn lại vẫn còn bao trùm trong màn bí mật.

Trong mỗi cuộc hành quân đặc biệt xâm nhập hậu tuyến địch, nhất là tại những vùng "ngoại biên" (ngoài lãnh thổ VNCH) như Bắc Việt, Lào, Cam Bốt, lực lượng tham dự thường chia làm hai thành phần: toán hành động, thường được gọi tắt là "toán" (team) có nhiệm vụ "đổ bộ" để thi hành công tác được trao phó và toán yểm trợ chịu trách nhiệm chuyên chở, đổ và bốc toán hành động cũng như yểm trợ hỏa lực khi cần. Các toán Bộ Binh vì không có phương tiện chuyên chở và yểm trợ cơ hữu như phi cơ hay tầu bè và nên chỉ có thể đảm nhiệm công tác hành động. Ngược lại, Không Quân vì không có toán hành động riêng nên chỉ có thể thi hành công tác chuyên chở và yểm trợ. Riêng Hải Quân là quân chủng duy nhất có thể tự đảm trách những cuộc hành quân đặc biệt vì trong tổ chức đã có đủ hai thành phần quan yếu nói trên.

Ngoài ra, trong khi những cuộc hành quân đặc biệt do Phi Đoàn 219 và các toán Lôi Hổ, Delta v.v... chịu trách nhiệm phần lớn chỉ xảy ra trong lãnh thổ Việt Nam, Lào hay Cam Bốt, còn các vụ xâm nhập lãnh thổ Bắc Việt về sau này hầu như hoàn toàn do Hải Quân VNCH tự đảm trách bằng những đơn vị cơ hữu. Thành phần hành động của Hải Quân là Lực Lượng Biệt Hải, còn đơn vị yểm trợ và chuyên chở được gọi là Lực Lượng Hải Tuần (LLHT). Về phương diện hành quân, LLHT là đơn vị duy nhất thuộc LLĐB có thể tự thi hành một số công tác đặc biệt tại Bắc Việt như pháo kích các mục tiêu trên bờ, bắt giữ các ngư phủ để khai thác tin tức tình báo, thả truyền đơn v.v... mà không cần sự trợ giúp của các lực lượng khác. Cả hai Lực Lượng Hải Tuần và Biệt Hải nằm dưới quyền chỉ huy của Sở Phòng Vệ Duyên Hải (SPVZH).

Trước khi tìm hiểu thêm về mặt tổ chức cũng như những hoạt động của SPVZH, tưởng cũng nên minh xác đôi điều để tránh mọi hiểu lầm đáng tiếc. Bài viết này căn cứ phần lớn vào những điều chúng tôi biết và còn nhớ qua 5 năm liên tiếp đảm nhiệm chức vụ Hạm Phó cũng như Hạm Trưởng nhiều khinh tốc đĩnh (PTF - Patrol Torpedo Fast) thuộc LLHT và đã tham dự trên 100 chuyến công tác đủ loại tại hải phận Bắc Việt từ năm 1965 đến 1970. Một số biến cố xảy ra trước và sau khoảng thời gian này chúng tôi chỉ được nghe kể lại hoặc thâu thập được trong những cuộc phỏng vấn những người trong cuộc mới đây. Vì vậy, dù cố gắng trình bày sự thật khách quan, nhưng thời gian thế nào cũng làm trí nhớ mai một phần nào, nên không sao tránh khỏi sai sót, mong những vị "biết chuyện", nhất là các bạn đồng đội cũ vui lòng đóng góp ý kiến và bổ khuyết để trang Hải Sử về LLHT được thêm phần trung thực. Chúng tôi cũng minh xác chỉ muốn trình bày sự thật, không hề có ý phê bình hoặc chỉ trích bất cứ ai, đặc biệt với những người chúng tôi hằng mến mộ và kính phục là các tác giả Việt - Mỹ đã bỏ công lao nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và viết về SPVZH và LLHT. Trân trọng cám ơn.

Vì SPVZH là một đơn vị thuộc LLĐB, tưởng cũng nên duyệt qua phần nhân sự cũng như tổ chức của lực lượng này để việc theo dõi được mạch lạc và dễ hiểu hơn.

II. Sơ Lược Về Các Tổ Chức

Xâm Nhập Miền Bắc
Ngay sau khi hiệp định đình chiến Genève phân chia hai miền Nam - Bắc Việt Nam vừa được ký kết vào năm 1954, Giám Đốc Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) là ông Allen Dulles đã chỉ thị Đại Tá Không Quân Edward Lansdale sang Việt Nam để hỗ trợ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm củng cố Miền Nam cũng như tổ chức những cơ sở bán quân sự nằm vùng tại Bắc Việt trước khi Cộng Sản (CS) kiểm soát. Đại Tá Lansdale lúc đó đang đảm nhiệm chức vụ Phó Giám Đốc Phòng Hành Quân Đặc Biệt thuộc Bộ Quốc Phòng do Thiếu Tướng Graves Erskine làm Giám Đốc. Sở trường của ông là điều hành những hoạt động phản du kích "mật" trong bóng tối, trước đây đã giúp Tổng Thống Phi Luật Tân Magsaysay của Phi Luật Tân thành công trong việc tiêu diệt loạn quân CS Huk trong khoảng giữa thập niên 1950. Tổ chức của Đại Tá Lansdale tại Việt Nam được gọi là Phái Bộ Quân Sự Sài Gòn (Saigon Military Mission), trong đó còn có một chuyên viên điệp báo là Thiếu Tá Bộ Binh Lucien Conein, người sau này nắm giữ một vai trò rất quan trọng trong những cuộc chính biến dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Ngay trước khi miền Bắc được trao cho CS, nhiều nhân viên dân sự người Việt do Đại Tá Lansdale tuyển mộ, đa số thuộc sắc tộc Nùng sinh trưởng tại vùng Móng Cái gần Hải Phòng và biên giới Hoa - Việt, đã được gửi sang đảo Saipan để huấn luyện về kỹ thuật xâm nhập, nằm vùng và phá hoại. Khi Việt Nam chính thức bị chia đôi, họ đã được huấn luyện thuần thục và chia thành từng toán nhỏ, sau đó được các chiến hạm Hoa Kỳ thuộc Đệ Thất Hạm Đội đổ bộ vào khu vực bờ biển gần nguyên quán. Những nhân viên này được lệnh trà trộn với thân nhân, "nằm yên" không hoạt động gì cả cho tới khi nhận được chỉ thị. Vũ khí, máy truyền tin và vàng đã được dấu sẵn trước tại những địa điểm bí mật để phòng khi cần tới. Một trong những "điệp viên chìm" trong thời gian này là Phạm Xuân Ẩn, nhưng Đại tá Lansdale không biết hắn là một tên VC nằm vùng được cài vào tổ chức của mình.

Về phần Nam Việt Nam, sau khi tình hình tương đối ổn định, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng tổ chức riêng những cơ quan tình báo đặc biệt trực thuộc Phủ Tổng Thống do Bác Sĩ Trần Kim Tuyến người Huế đứng đầu. Một trong những bộ phận dưới quyền Bác Sĩ Tuyến, chuyên đảm nhiệm các hoạt động Biệt Kích là Sở Liên Lạc do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, Đại Tá Trần Khắc Kinh phụ tá. Người lo việc tuyển mộ nhân viên cho Sở Liên Lạc là Đại Úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại Tá Lê Quang Tung, lúc đó còn đảm nhiệm chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ. Ngoài ra, ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn cũng có những tổ chức điệp báo riêng biệt tại Miền Trung.
Sở Liên Lạc chia thành 3 bộ phận chính, đó là Sở Bắc, Sở Nam và Liên Đội Quan Sát.

1. Sở Bắc
Sở Bắc còn được gọi là Phòng 45 do Đại Úy Bộ Binh Ngô Thế Linh (sau này được thăng đến cấp Đại Tá), bí danh là "Bình" điều khiển. Tuy được mệnh danh là Sở Bắc nhưng cơ quan này không những chỉ đảm nhiệm các hoạt động Biệt Kich ở Bắc Việt, mà còn tổ chức những cuộc hành quân mật trên đất Lào và Cam Bốt. Tóm lại, Sở Bắc chịu trách nhiệm về những hoạt động Biệt Kích bên ngoài lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.

2. Sở Nam
Sở Nam hay Phòng 55 do Đại Úy Bộ Binh Trần Văn Minh chỉ huy, chịu trách nhiệm về những hoạt động Biệt Kích trong lãnh thổ VNCH.

3. Liên Đội 1 Quan Sát
Ngoài hai Sở Nam và Bắc, Sở Liên Lạc còn có một cơ cấu đặc biệt ít người biết đến, đó là Liên Đội Quan Sát 1 được thành lập vào năm 1956 với sự trợ giúp của Ngũ Giác Đài và CIA Hoa Kỳ.
Bề ngoài, Liên Đội chỉ là một tổ chức thông thường với một số nhân viên trực thuộc về mặt hành chánh, nhưng mọi công tác đều do Sở Liên Lạc điều động. Những nhân viên của Liên Đội được đặc biệt huấn luyện để thi hành các công tác "nằm vùng" ngay tại Miền Nam trong trường hợp nơi này bị rơi vào tay CS sau cuộc Tổng Tuyển Cử theo tinh thần hiệp định Genève. Mãi cho tới năm 1958 dù cuộc tuyển cử đã bị hủy bỏ, các toán công tác thuộc Liên Đội vẫn còn thực hiện những vụ chôn giấu vũ khí, chất nổ, máy truyền tin, vàng v. III. Các Đường Xâm Nhập
Tới năm 1958, khi tình hình miền Nam đã tương đối ổn định, Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới chính thức yêu cầu Hoa Kỳ trợ giúp để thực hiện những hoạt động Biệt Kích tại Bắc Việt. Vì vậy, khi ông Wìlliams Colby thuộc CIA được cử đến Sài Gòn vào ngày 1 tháng giêng năm 1959 để sắp đặt các cơ sở cần thiết, những hoạt động Biệt Kích phối hợp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam mới được chính thức bắt đầu. Nhìn chung các hoạt động xâm nhập Miền Bắc gồm 2 ngả chính là đường hàng không và đường biển.

1. Xâm Nhập Bằng Đường Hàng Không
Về đường hàng không, thoạt tiên, CIA mướn một số phi công thuộc công ty Hàng Không Trung Hoa (China Air Lines - CAL) ở Đài Bắc để huấn luyện những phi công Việt Nam. Sau này, Phi Đoàn Vận Tải của Không Quân Việt Nam do Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ làm Phi Đoàn Trưởng kiêm luôn những chuyến bay thả dù đặc biệt ngoài Bắc.
Chuyến bay đầu tiên được thực hiện vào ngày 27 tháng 5 năm 1961 do chính Trung Tá Nguyễn Cao Kỳ là phi công chính của chiếc phi cơ C-47. Bốn nhân viên của toán Caster được thả dù xuống một vùng rừng núi thuộc tỉnh Sơn La. Họ đều là người Nùng gốc Sơn La, nguyên là quân nhân thuộc Sư Đoàn 22 Bộ Binh, một đơn vị có đa số quân nhân thuộc gốc người thiểu số miền Bắc di chuyển vào miền Nam. Toán Caster được đặt dưới quyền điều động của Sở Khai Thác Địa Hình thuộc Phòng 45 tức là Sở Bắc. Trưởng toán Caster tên là Hà Văn Chấp. Sau khi hoàn tất công tác thả toán, phi cơ của Trung Tá Kỳ rời khỏi Bắc Việt an toàn bằng ngả không phận Lào.

2. Xâm Nhập Bằng Đường Biển
Các hoạt động xâm nhập Bắc Việt bằng đường biển đã được khởi sự rất sớm, chỉ vài năm sau khi chia đôi đất nước. Những vụ xâm nhập bắt đầu vào năm 1956 khi Sở Liên Lạc cần một số ghe gỗ để chở nhân viên tăng cường cũng như tiếp tế vật liệu cho những toán "nằm vùng" ngoài Bắc bằng đường biển.

Lúc đầu, chỉ có 6 nhân viên dân sự nguyên quán tỉnh Quảng Bình di cư được tuyển mộ tại Nha Trang để gia nhập lực lượng "biển" mới được thành lập này. Công tác bao gồm những chuyến đi ngắn chừng một vài ngày xâm nhập hải phận miền Bắc bằng những ghe nhỏ giống như ghe đánh cá ngoài Bắc để dễ trà trộn. Sau đó, vì nhu cầu công tác ngày một gia tăng, lực lượng xâm nhập "biển" tuyển mộ thêm nhiều nhân viên và trang bị thêm ghe lớn hơn. Lực lượng gồm toàn nhân viên dân sự này là một thành phần của Sở Bắc dưới quyền điều động của "ông Bình", có thể được coi là tiền thân của SPVZH và LLHT sau này.
Tuy những chuyến tiếp tế và liên lạc bằng đường biển vẫn tiếp tục, nhưng mãi đến tháng 2 năm 1961, cơ quan mật vụ của Bác Sĩ Trần Quang Tuyến với sự trợ giúp cùa CIA Hoa Kỳ mới cho đổ bộ 2 điệp viên thực sự lên bờ biển Quảng Yên. Hai điệp viên này, một người gốc miền Nam, người thứ hai gốc miền Bắc tên là Phạm Chuyên lên bờ an toàn. Chuyên nguyên là một cán bộ trung cấp VC hồi chánh bằng cách vượt vĩ tuyến 17 vào năm 1959. Bí danh hoạt động của Chuyên là Ares. Sau này, có bằng cớ cho thấy Ares là một điệp viên nhị trùng.

3. Ghe Nautilus
Sau cuộc đổ bộ điệp viên này, các ghe dùng để xâm nhập hải phận Miền Bắc đều được đặt bí danh "Nautilus", lấy tên chiếc Tiềm Thủy Đĩnh bí mật của Hạm Trường Nemo trong cuốn truyện khoa học già tưởng "20,000 Dậm Dưới Đáy Biển" của văn hào Jules Verne. Các chuyến công tác cũng được gọi là Nautilus. Trong giai đoạn này, các chuyến xâm nhập bằng đường biển đều thành công tương đối dễ dàng.
Đến lúc này, các công tác Nautilus đều do CIA điều hành. Thủy thủ đoàn Nautilus vẫn hoàn toàn là các nhân viên dân sự do CIA tuyển mộ, nhưng cũng đã có một số người nhái thuộc Hải Quân Việt Nam được CIA đặc biệt huấn luyện để thi hành những công tác phá hoại bằng chất nổ. Những người nhái này đa số thuộc toán 18 quân nhân được gửi đi thụ huấn khóa huấn luyện đặc biệt tại Đài Loan vào tháng 8 năm 1960.
v... để chuẩn bị cho những công tác "nằm vùng" khi cần.

IV. Thay Đổi Hệ Thống Chỉ Huy
Ban đầu, một số công tác Nautilus xâm nhập bằng đường biển đạt được kết quả khả quan vì địch chưa kịp đề phòng cũng như ứng phó. Nhưng càng về sau, hiệu năng càng giảm sút vì địch gia tăng lực lượng duyên phòng cũng như bị phản nên nhiều chuyến công tác bằng ghe đã thất bại vì bị lộ.

Việc dùng ghe chỉ được lợi điểm có thể trà trộn với các thuyền đánh cá địa phương, nhưng nhờ khai thác tin tức từ các thủy thủ đoàn bị bắt, địch đã biết khá rành rẽ về đường đi nước bước của các chuyến xâm nhập nên cũng khó lòng lẩn tránh. Hơn nữa, các ghe Nautilus đều có vận tốc chậm và hỏa lực yếu nên không thể tự vệ khi bị phát hiện và săn đuổi.

Vì những lý do trên, Đô Đốc Harry G. Felt, Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINPAC - Commander In Chief, Pacific) cho rằng những tổ chức mật vụ của CIA không đủ khả năng để hoàn thành sứ mạng xâm nhập. Ông đề nghị dùng các phương tiện của Hải Quân Hoa Kỳ, trong đó có cả việc dùng tiềm thủy đĩnh thay thế cho các ghe Nautilus. Vào khoảng tháng 7-62, Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara triệu tập một buổi họp giữa Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao và CIA để tìm giải pháp. Mọi người đồng ý chuyển giao phần điều hành các hoạt động biệt kích xâm nhập Bắc Việt từ CIA qua Bộ Quốc Phòng. Việc chuyển giao sẽ được hoàn tất trong vòng một năm dưới kế hoạch mang bí danh Switchback. Tới tháng 12 năm 1962, Toán Đặc Biệt (Special Group) thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council) cũng chấp thuận đề nghị của Đô Đốc Felt trước đây về việc xử dụng khinh tốc đĩnh và người nhái để đảm nhiệm những công tác đổ người lên miền Bắc. Tuy nhiên lúc đó cả tầu lẫn người nhái đều chưa có.

Kế hoạch Switchback chính thức khởi đầu vào ngày 1 tháng giêng năm 1963. Từ đó, Bộ Tư Lệnh Quân Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (MACV - Military Assistance Command Vietnam) chính thức thay thế CIA đảm nhiệm các công tác dọc theo biên giới lúc bấy giờ đang do nhân viên CIA Gilbert Layton chỉ huy. Đại Tá Geoge Morton thay thế Layton, thành lập Toán C Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB), đặt bản doanh tại Nha Trang với Layton ở lại làm phụ tá. Riêng các hoạt động ngoài Bắc, tuy do MACV điều động nhưng nhân viên CIA W.T Chenney vẫn chịu trách nhiệm. Tháng 4 năm 1963, một trung tâm huấn luyện LLĐB cũng được thiết lập tại Long Thành để huấn luyện các toán sẽ được thả ra ngoài Bắc trong khi CIA chuẩn bị bàn giao các hoạt động xâm nhập miền Bắc cho các giới chức quân sự.

Trần Đổ Cẫm
http://biethai.blogspot.com/




Tuesday, January 7, 2014

Thiết Giáp VNCH 1961-1969


Mũ BÊ RÊ ĐEN VÀ ANH LÍNH THIẾT GIÁP

Chiến Sử Thiết Giáp Vnch: Thời Sôi Động 1961-1969
Tác giả : Vương Hồng Anh

Trong số trước, VB đã lược trình chiến sử của binh chủng Thiết giáp QL.VNCH trong giai đoạn sơ khởi (1951-1954) và giai đoạn hình thành (1955-1960). Sau đây là phần lược sử về sự phát triển của lực lượng Thiết giáp QL.VNCH trong giai đoạn từ 1961 đến 1969.

* Thiết vận xa M 113 và cuộc thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam:
Cuối năm 1961, CSBV gia tăng hoạt động quân sự tại miền Nam, tiến hành hàng loạt cuộc tấn công vào vị trí phòng thủ của các đơn vị VNCH. Trước diễn biến của tình hình, Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa. Trong số những quân dụng được Hoa Kỳ chuyển giao cho Việt Nam Cộng Hòa có loại xe Thiết giáp M 113. Ban đầu, các xe này được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh sử dụng cơ giới trong yểm trợ. Tuy nhiên, bộ chỉ huy Thiết giáp yêu cầu các M 113 phải được những quân nhân Thiết giáp xử dụng và Trường Thiết giáp nằm trong Liên trường Võ khoa Thủ Đức có nhiệm vụ huấn luyện M 113.

Cuộc chuyển giao đầu tiên diễn ra vào ngày 30 tháng 2/1962 với 32 chiếc M 113, trong đó 30 chiếc giao cho hai đại đội cơ giới, mỗi đại đội có 15 chiếc. Theo tổ chức, mỗi đại đội có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ, mỗi chi đội chiến đấu có 3 M 113, chi đội yểm trợ có 4 chiếc M 113, trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M 113, một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo trì và sửa chữa, chỉ có tài xế và xa trưởng là quân nhân thuộc binh chủng Thiết giáp, trong khi các xạ thủ súng máy tuyển từ các đơn vị Bộ binh nên chưa có nhiều kinh nghiệm phải kéo dài huấn luyện từ 6 lên 9 tuần lễ. Hai đại đội này chính thức xuất quân vào ngày 11-6-1962, và bộ chỉ huy chiến trường quyết định đưa hai đơn vị này xuống đồng bằng Cửu Long để bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài Gòn. Hai đại đội đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh, sau đó được cải biến thành đại đội 7 và đại đội Cơ giới M 113.

Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ, loại M 113 được dùng như một loại “taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu, thế nhưng trên chiến trường VN, kinh nghiệm cho thấy đem lực lượng BB tới sát mục tiêu thường bị tổn thất nặng, khả năng di động bị hạn chế tối đa, phải hy sinh khả năng yểm trợ của Thiết vận xa. Từ những kinh nghiệm đó, các đại đội Cơ giới đã linh động trong chiến thuật, các quân nhân trên mỗi xa đội thường ngồi trên chiến xa để chiến đấu, chỉ nhảy ra khỏi xe khi vị trí địch quân bị tràn ngập hoặc khu vực đó đã được lục soát kỹ. Các Thiết quân vận M 113 qua sự sử dụng của Thiết giáp binh VNCH đã trở thành loại xe tốc chiến giống như chiến xa và cách đánh này cũng được nhiều đơn vị Hoa Kỳ áp dụng sau này.

* Từ đại đội Cơ giới đến các chi đoàn Thiết Thiết quân vận:
Đến hết tháng 10 năm 1962, hai đại đội Cơ giới trên đã tiêu diệt 517 CQ, bắt sống 203 CQ, trong khi sự tổn thất của hai đại đội này được ghi nhận là rất nhẹ: 4 tử trận và 13 bị thương. Sau giai đoạn thử nghiệm với kết quả khả quan, hai đại đội Cơ giới được cải thành chi đoàn cơ giới số 4 và số 5 trực thuộc Trung đoàn 2 Kỵ binh (sau đổi thành Thiết đoàn 2) đóng tại Mỹ Tho. Các trung đoàn 1 và 4 cũng được tái tổ chức vào cuối năm 1962. Trước đó, vào tháng 9, các chiến xa M 113 mới được giao cho một số chi đoàn và công tác huấn luyện được tiến hành vào những tháng tiếp theo. Đến tháng 5/1963 thì mọi kế hoạch tái trang bị đã hoàn tất, mỗi trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp (thiết đoàn) có 1 chi đoàn Chiến xa M 24, 1 chi đoàn Trinh sát M 114, hai chi đoàn cơ giới M 113, ngoại trừ trung đoàn 2 Kỵ binh không có chi đoàn chiến xa nên được thêm một chi đoàn M 113.

Thời gian này, Thiết vận xa M 113 càng ngày càng trở thành một loại Thiết giáp đa dụng, có thể đi bất cứ nơi nào trong toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam kể cả những nơi tưởng rằng rất khó sử dụng cho Thiết giáp như ở Miền Tây sông ngòi chằng chịt. Bất cứ địa thế hiểm trở nào, M 113 cũng có cách thích ứng ngay. Trong năm 1963 nhiều chiến thuật, kỹ thuật và đơn vị mới được thử nghiệm trên chiến trường 4 vùng chiến thuật. Trong số những cải tiến này là loại xe M 113 được gắn thêm một khẩu đại liên 50. Nhưng trong trận Ấp Bắc tháng Giêng 1963, 14 xạ thủ đại liên 50 đại liên tử trận nên đã phải chế ra cái bững chống đạn bao quanh xạ thủ đại liên. Từ năm 1964, tất cả các M 113 đều được gắn lá chắn chống đạn bằng loại kim khí cứng đầy.

Về chiến xa, đến năm 1964, loại chiến xa M 24 Chaffes do Pháp để lại không có cơ phận thay thế vì khó mua, máy móc hư muốn sửa lại phải đưa sang Nhật. Trước thực trạng đó, đến giữa năm 1964, loại M 41A 3 Walker Bulldog nhẹ được chọn để thay thế M 24. Đợt chiến xa đầu tiên được giao cho binh chủng Thiết giáp vào tháng Giêng năm 1965 và đến cuối năm 1965 đã có 5 chi đoàn được trang bị và hoàn tất chương trình huấn luyện. Loại M41 A3 được các chuyên viên về chiến xa nhận xét là có nhiều ưu điểm và rất thích hợp với chiến trường Việt Nam. Trong khi các quân nhân Mỹ có thân hình to con thường chê loại M 41 không đủ chỗ cho họ, nhưng đối với quân nhân Việt Nam thì rất vừa vặn. Ngay trong thời gian đầu, loại M 41 A 3 đã chứng minh rằng Thiết giáp binh VNCH đã có sự chọn lựa đúng nhất vì đây là một loại chiến xa tác chiến rất hữu hiệu và các chiến binh Thiết giáp VNCH đã rất tinh nhuệ khi sử dụng.

Trong một tài liệu tịch thu được của CQ, có đoạn nói về sự kinh hoàng của Cộng quân trước sự hữu hiệu của chiến xa M 113, nguyên văn như sau: “Thiết giáp của địch xuất hiện trong lúc chúng ta yếu và vũ khí chống chiến xa của chúng ta thô sơ và hiếm. Chúng ta không có kinh nghiệm chống Thiết giáp, vì thế Thiết giáp của địch rất hữu hiệu và gây cho chúng ta nhiều khó khăn lúc đầu.”

Theo ghi nhận của các cấp chỉ huy Thiết giáp, trong thời gian đầu, CQ tránh không dám giao tranh với các xa đội M 113 mà quân sĩ đối phương gọi là những con rồng xanh, vì cái hình dáng của nó trong khi di động trên các cánh đồng bùn lầy phun lửa và khói. Dần dần CQ tìm cách để vô hiệu hóa M 113. Địch quân đào hầm hố trên các con đường ở miền Tây, những mìn bẫy chống chiến xa được gài hàng dọc hoặc tại những chỗ quẹo. Đầu năm 1963, CQ có loại đạn gây sức nóng để sử dụng cho loại súng đại liên của Trung Cộng cấp. Ngoài ra, các vũ khí chống chiến xa của CQ được tăng cường thêm với loại lựu đạn chống tăng PGN-2 bắn từ AK 47 và hỏa tiễn 57 ly.

Trong khi loại Thiết quân vận M 113 được phát triển mạnh trên chiến trường thì vũ khí của VC dùng để chống chiến xa cũng gia tăng. Đến năm 1965, các đơn vị cấp đại đội hoặc nhỏ hơn đều có trang bị vũ khí chống chiến xa, loại vũ khí hữu hiệu nhất của CQ vào thời kỳ này là hỏa tiễn RPG-2 của Nga và sau đó là hỏa tiễn B-40. Những loại vũ khí tuy đã gây khó khăn cho các cuộc hành quân có Thiết giáp tham dự, nhưng các chi đoàn Thiết kỵ vẫn giành được thế chủ động về hỏa lực trong các cuộc tấn công phối hợp với Bộ binh.

* Giai đoạn phát triển 64-1969:

Đến tháng 10 năm 1963, lực lượng Thiết giáp binh QL.VNCH có 4 trung đoàn TGKB đã được phối trí như sau: Trung đoàn 1 TGKB, bộ chỉ huy đóng ở Gò Vấp, thuộc Vùng 3 chiến thuật; Trung đoàn 2 TGKB đóng ở Mỹ Tho, thuộc Vùng 4 chiến thuật; Trung đoàn 3 TGKB, đóng ở Pleiku thuộc Vùng 2 chiến thuật; Trung đoàn 4 TGKB đóng tại Quảng Trị, sau dời vào Đà Nẵng, thuộc Vùng 1 chiến thuật. Từ 1964 đến 1967, các đơn vị chiến xa và Thiết quân vận đã có mặt trong hầu hết các cuộc hành quân quy mô do các bộ tư lệnh Sư đoàn/Khu chiến thuật tổ chức.
Trong hai năm 1968 và 1969, do nhu cầu chiến trường, nhiều thiết đoàn (danh xưng mới của các trung đoàn Thiết giáp) được thành lập thêm để yểm trợ cho các sư đoàn Bộ binh theo sự phối trí như sau: mỗi sư đoàn có một thiết đoàn yểm trợ. Vào thời gian này, Quân lực VNCH có 10 sư đoàn Bộ binh: 1, 2 (Quân đoàn 1), 22, 23 (Quân đoàn 2), 5, 18, 25 (Quân đoàn 3), 7, 9 và 21 BB (Quân đoàn 4).

* Lược ghi về chỉ huy trưởng đầu tiên của binh chủng Thiết giáp Quân lực VNCH:

- Trung tá Dương Ngọc Lắm: nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 3 Thám thính; giữ chức chỉ huy trưởng Thiết giáp binh QL.VNCH từ ngày 29/3/1955, năm 1958 rời binh chủng Thiết giáp, từ năm 1959 đến 1963, mang cấp đại tá và lần lượt giữ các chức vụ sau đây: tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh, tổng giám đốc Bảo An và Dân Vệ (giữa năm 1964 cải danh thành tư lệnh Địa phương quân và Nghĩa quân). Đầu tháng 2/1962 được thăng cấp thiếu tướng, kiêm nhiệm chức vụ Đô trưởng Đô thành Sài Gòn. Ngày 14 tháng 9/1964, giải ngũ vì bị trung tướng Nguyễn Khánh-thủ tướng, chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng nghi ngờ có liên quan đến vụ chính biến 13-9 do trung tướng Dương Văn Đức cầm đầu. Tướng Dương Ngọc Lắm là em rể của cố đại tướng Đỗ Cao Trí.

Binh Chủng Thiết Giáp VNCH
 · 
Shared publicly 


 
Thiết Giáp 113 Lội Nước.
Quân Lực VNCH 1963 (?)

Thiết giáp M113 đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa được thành lập với 30 chiếc, mỗi đại đội có 15 chiếc. Hai đơn vị này được đưa xuống hoạt động ở đồng bằng sông Cửu Long.

M113 được dùng như một loại “Taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đổ bộ tấn công mục tiêu.

M113 có khối lượng chiến đấu 12,3 tấn, vỏ nhôm dày 12-38mm, kíp chiến đấu 2 người và có thể chở theo 1 tiểu đội bộ binh. M113 được trang bị một đại liên 12,7 mm và hai trung liên 7,62 mm bắn được về phía bên sườn. Với vỏ thép có thể chịu được các loại đạn bộ binh thông thường cùng các cửa sổ nhỏ bên sườn, M113 đã trở thành một lo cốt di động khá lợi hại, bộ binh trong xe có thể chiến đấu trực tiếp khi xe đang chạy.

Với thiết kế khá nhỏ gọn, động cơ mạnh mẽ, M113 càng ngày càng trở thành một loại thiết giáp đa năng, có thể đi bất cứ nơi nào trong toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam, kể cả những nơi tưởng rằng rất khó sử dụng cho thiết giáp như ở Miền Tây sông ngòi chằng chịt. Bất cứ địa thế hiểm trở nào, M113 cũng có cách thích ứng ngay.

Trên chiến xa, mỗi người lính Thiết Giáp đều phải mang nón sắt. Nón sắt của lính Thiết Giáp VNCH giống như cái headphone nhưng có microphone để nói (gọi là cáp) và một cái switching (gọi là con rùa).
 
Có hai vị trí: một để dùng vô tuyến, một dùng intercom. Có một hộp control (điều khiển). Có thể cho phép tất cả mọi người nói và nghe, và có một vị trí mà cấp chỉ huy nói và nghe. Còn lại chỉ nghe mà không nói được.

Trên thiết xa M113 thì chỉ trưởng xa mới đeo cáp. Một cái speaker (loa) được gắn ngay chổ tài xế để cho tất cả nhân viên xa đội nghe lệnh. Sĩ quan chỉ huy cầm cây để điều khiển tài xế và các xạ thủ bắn mà không cần dùng intercom. Một tiểu  đoàn M113 có gần 20 chiếc tức là 20 đài. Nếu không khéo thì chả ai nghe hay nói gì được mà khi đụng trận thì lu bu lắm. Báo cáo, lệnh lạc sẽ rối mù nếu không ăn ý. Cho nên những sĩ quan mới về thường gặp khó khăn trong vấn đề liên lạc, nhận lệnh và ra lệnh.

Phần đông xe được trang bị ghế cho các trưởng xa. Có hai cây minigun tức đại liên sáu nòng. Đeo cáp rất bất tiện vì khi súng nổ không nghe hoặc nghe rất nhỏ trở ngại cho việc tác chiến không phân biệt được loại súng và hướng súng của địch quân cho nên khi tác chiến cáp chỉ được đeo một bên tai còn tai kia thì để nghe tiếng đạn.

Khi di chuyển ngoài quốc lộ thì đeo cáp rồi đội nón sắt lên trông rất lịch sự. Trong hình tài xế và xạ thủ chỉ đội nón sắt mà không đeo cáp."
 ·